I/.
TÊN SÁCH:
1/. Hibálai: nguyên văn Hibálai thì sách không có tên, chỉ dùng những chữ đầu của sách làm tên cho sách: Elleh Shemoth có nghĩa: “Đây là danh sách”.
2/. Hi-lạp: (Bản Septuagint) gọi tên sách là Exodos Exit (departure), có nghĩa ĐI RA, XUẤT HÀNH.
3/. Việt ngữ: Sách được đặt tên theo 19:1, theo Hán văn (các dịch giả đã dịch theo bản Hoa ngữ), có nghĩa là: Xuất = ra khỏi; Ê-díp-tô = theo âm tiếng Pháp là xứ Ai Cập (danh từ nầy thì bản Việt ngữ lại theo Pháp ngữ, không theo Hoa ngữ); Ký = ghi lại. Như vậy Xuất Ê-díp-tô ký là sách Ghi Lại Câu Chuyện Ra Khỏi Xứ Ai Cập, nói rõ hơn, sách ghi lại truyện tích Đức Chúa Trời giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi cảnh nô lệ tại Ai Cập.
II/. BỐ CỤC:
Đề mục: XUẤT HÀNH
Câu gốc: 19:1
A/. LÝ DO XUẤT HÀNH: 1:1-22
1/. Hibálai: nguyên văn Hibálai thì sách không có tên, chỉ dùng những chữ đầu của sách làm tên cho sách: Elleh Shemoth có nghĩa: “Đây là danh sách”.
2/. Hi-lạp: (Bản Septuagint) gọi tên sách là Exodos Exit (departure), có nghĩa ĐI RA, XUẤT HÀNH.
3/. Việt ngữ: Sách được đặt tên theo 19:1, theo Hán văn (các dịch giả đã dịch theo bản Hoa ngữ), có nghĩa là: Xuất = ra khỏi; Ê-díp-tô = theo âm tiếng Pháp là xứ Ai Cập (danh từ nầy thì bản Việt ngữ lại theo Pháp ngữ, không theo Hoa ngữ); Ký = ghi lại. Như vậy Xuất Ê-díp-tô ký là sách Ghi Lại Câu Chuyện Ra Khỏi Xứ Ai Cập, nói rõ hơn, sách ghi lại truyện tích Đức Chúa Trời giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi cảnh nô lệ tại Ai Cập.
II/. BỐ CỤC:
Đề mục: XUẤT HÀNH
Câu gốc: 19:1
A/. LÝ DO XUẤT HÀNH: 1:1-22
1.
Vì sự phát triển của tuyển dân:
1:1-7
2.
Vì sự thù nghịch của người Ai Cập:
1:8-22
B/.
CHUẨN BỊ XUẤT HÀNH:
2: - 13:
1.
Chuẩn bị Người lãnh đạo:
2: - 4:
2.
Chuẩn bị Kế hoạch:
5: - 13:
C/.
LỆNH XUẤT HÀNH:
14: - 40:
1.
Vượt Biển Đỏ:
14: - 15:21
2.
Tiến đến Sinai:
15:22 – 18:
3.
Tại Sinai:
19: - 40:
a.
Luật pháp căn
bản
19: - 31:
b. Phản nghịch 32: - 34:
c. Xây dựng Đền Tạm 35: - 40:
III/. ĐẶC ĐIỂM:
b. Phản nghịch 32: - 34:
c. Xây dựng Đền Tạm 35: - 40:
III/. ĐẶC ĐIỂM:
1.
Môi-se:
Tên
Môi-se do tiếng Hi-bá-lai là Moshe từ động từ Masha, có nghĩa là “kéo”. Có lẽ
do Công chúa Ai Cập
lấy tiếng Hi-bá-lai thời đó đặt cho đứa bé trai con người Hê-bơ-rơ, hoặc do
Công chúa Ai Cập so
sánh truyện Môi-se được kéo ra khỏi nước với một nhân vật lừng danh của Ai Cập
tên Sargon Agade thuộc thiên niên kỷ thứ III, từng được bỏ vào thúng thả trôi
sông. Có thể từ truyện tích nầy đã khiến Công chúa Ai Cập sẵn lòng cứu và nuôi
Môi-se
Đời sống của Môi-se được chia làm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn 40 năm.
Đời sống của Môi-se được chia làm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn 40 năm.
a.
40 năm học hỏi tại Ai Cập với tư cách là con trai của Công chúa Pharaôn (Xuất. 2:1-10; Công vụ
7:22-23)
·
Cả thế giới đều nhìn nhận
nền văn minh của Ai Cập thời Cổ. Nền văn minh đó thể hiện qua Kim Tự Tháp.
Vương quốc Ai Cập bắt đầu từ năm 3.500 TC. và chấm dứt vào năm 500 TC, với 30
triều đại. Triều đại thứ VIII vào năm 1501 – 1447 TC., vua Thoutmes III đã đưa
Ai Cập lên tột đỉnh vinh quang. Vua Amenophis IV (1370 TC.) đồng thời với
Môi-se là người tôn thờ thần Mặt trời (thần Aton) hoặc Ramses II
(1290-1224 TC.). Chữ Pharaôn dịch từ tiếng Ai Cập Per-Âa nghĩa
là Cái Nhà Lớn lấy từ gốc chữ Râ –
Mặt Trời.
Chúng
ta thử xem văn minh Ai Cập qua Kim Tự Tháp CHEOPS (Một trong ba Kim tự tháp đẹp
nhất).
·
cao 148m (nay còn 137m)
·
Đáy tháp vuông, cạnh 227m
·
nặng 6 triệu tấn.
·
gồm 2.300.000 khối đá,
mỗi khối đá từ 2 đến 16 tấn. Nếu rỗng ruột, có thể chứa trọn Đại Giáo Đường St.
Pierre tại Lamã. Những khối đá được gọt đẽo khéo léo, lắp ráp chính xác đến độ
không thể nào chèn lưỡi dao bỏ túi vào, cũng không thấy dấu xi-măng. Tất cả
kiến trúc sư thời nay đều khen ngợi cho rằng người Ai Cập đã xây Kim tự tháp
với chiếc kính lúp của thợ sửa đồng hồ.
·
nếu kéo dài hai đường
chéo đáy kim tự tháp Cheops, thì khép kín vùng châu thổ sông Nile.
·
Kinh tuyến Cheops chia
vùng châu thổ sông Nile làm hai phần đều nhau. Phần lớn chạy trên vùng đất liền
có người ở đông đảo. Đây là điều mà cả kinh tuyến Paris và kinh tuyến Greenwich
đều không thỏa mãn được. Điều nầy chứng tỏ người Ai Cập biết tường tận toàn thế
giới (trong khi các nhà nhân chủng học lại cho rằng các nền văn minh nhất cũng
chưa biết được môt phần thế giới)
·
Hành lang duy nhất dẫn
đến ngõ vào bên trong Kim tự tháp trổ ra phía Bắc, ăn sâu vào bên trong với độ
dốc là 260 18’ 10’’. Nếu kéo dài lên sẽ đụng ngay sao Bắc Đẩu.
·
Khi xây Kim tự tháp,
người Ai Cập cổ dùng một cây thước “thiêng liêng” còn gọi là cây thước Kim tự
tháp. Thước dài 0,635,660m. Đó là một triệu của đường bán kính trái đất tại
cực.
Rp
= 0,635,660m x 107 = 6.356km
Nếu tăng chiều cao Kim tự tháp lên một tỉ lần, ta được khoảng cách trái đất đến mặt trời:
148,208m x 109 = 148.208.000km (con số nầy ngày nay thừa nhận là 149.400.000km hay 149.500.000km, đơn vị thiên văn)
Nếu tăng chiều cao Kim tự tháp lên một tỉ lần, ta được khoảng cách trái đất đến mặt trời:
148,208m x 109 = 148.208.000km (con số nầy ngày nay thừa nhận là 149.400.000km hay 149.500.000km, đơn vị thiên văn)
·
Muốn tìm chu vi hay diện
tích vòng tròn, phải lấy (Pi) x D (đường kính) và Pi.R2 Thế kỷ thứ 3 TC.,
Archimede cho trị số Pi là 3,1428, nhưng không ngờ trước Archimede 2.500 năm,
người Ai Cập đã tìm ra trị số Pi chính xác hơn Archimede.
·
Chu vi đáy Kim tự tháp
Cheops là 931,22m
Chiều
cao Kim tự tháp Cheops là 148,208m
Tỉ
số: chu
vi
931,22
= 3.1416
2 chiều cao (2 x 148,208)
2 chiều cao (2 x 148,208)
a.
Người ta đã san bằng 54.000m2 đất đá để làm nền cho Kim tự
tháp. Hiện nay độ chênh lệch giữa hai cạnh mặt đáy là 10cm (không biết đó là độ
lệch lúc xây dựng hay là sau gần 5.000 năm)
b.
Năm 820 SC. vua Al Mamoun của Hồi giáo cho người vào Kim tự tháp,
họ gặp một chiếc rương bằng đá hoa cương đỏ đánh bóng dài 1,97m; ngang 0,68m;
sâu 0,85m. Không thể khiêng chiếc rương nầy theo ngõ hành lang vào tháp, người
ta không biết nó được đưa vào Kim tự tháp cách nào.
c.
Nhân loại ngày nay tự hỏi các Nhà Thiên văn, toán học, của Ai Cập
đã dùng phương pháp gì để đạt được những kết quả phi thường ấy. Chưa ai trả lời
thỏa đáng. Chúng ta chỉ biết người Ai Cập cổ thật sự đã có một nền văn minh
khoa học rất cao. Và Môi-se đã lớn lên, đã hấp thụ nền văn minh đó.
c.
40 năm sau cùng của đời sống, Môi-se đã lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên ra
khỏi Ai Cập về đến biên giới phía Đông Đất Hứa., rồi chết trên đỉnh núi Tha-bô.
3.
Đặc điểm thứ 2: Luật pháp:
Từ
đoạn 19 đến đoạn 40, Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên những
luật đạo đức, luật thánh và nghi lễ. Căn bản là 10 điều
răn chia làm hai phần:
·
6 điều đối với người.
Nếu
chỉ đối với Chúa thì không
thực tế; nếu chỉ đối với người, thì không có căn bản để giải quyết, nghĩa là
không thể giải thích TẠI SAO.
4.
Đặc điểm thứ 3: Đền tạm:
Các
phần của Đền Tạm chỉ về Thần tánh và Nhân tánh của Chúa Jêsus Christ, cùng sự hi
sinh đền tội cho loài
người, sự phục sinh, và những phước hạnh mà tuyển dân nhận được do sự tương
giao với Đức Chúa Trời.
Tất cả vàng bạc, vật liệu, tổn phí cho việc xây dựng Đền Tạm, ước độ 1.250.000 Mỹ kim (thời giá thập niên 50 của thế kỷ 20)
Các phần Đền Tạm gồm có:
Tất cả vàng bạc, vật liệu, tổn phí cho việc xây dựng Đền Tạm, ước độ 1.250.000 Mỹ kim (thời giá thập niên 50 của thế kỷ 20)
Các phần Đền Tạm gồm có:
A.
Hành lang:
·
Có hàng rào bao bọc chung
quanh Đền Tạm.
·
Dài 100m, rộng 50m, nhìn
về hướng Đông.
·
Làm bằng vải gai đậu mịn;
cao 1.5m, treo trên những trụ đồng cách nhau 1.5m (Xuất. 27:9-19)
·
Trong hành lang có: Bàn
thờ bằng đồng và Thùng rửa bằng đồng.
1/.
Bàn thờ xông hương ở giữa trước bức màn ngăn nơi thánh và nơi Chí thánh.
2/. Bàn để bánh trần thiết đặt ở phía Bắc (từ ngoài nhìn vào), trên bàn lúc nào cũng để 12 ổ bánh không men. Bánh nầy sẽ được thay đổi vào ngày Sabát (Xuất. 25:23-30)
3/. Chơn đèn: bằng vàng ròng, đặt phía Nam từ ngoài nhìn vào). Đèn nầy có 7 ngọn, đựng dầu ô-li-ve (27:20-21). Chúa ra lịnh đèn nầy phải cháy sáng luôn.
2/. Bàn để bánh trần thiết đặt ở phía Bắc (từ ngoài nhìn vào), trên bàn lúc nào cũng để 12 ổ bánh không men. Bánh nầy sẽ được thay đổi vào ngày Sabát (Xuất. 25:23-30)
3/. Chơn đèn: bằng vàng ròng, đặt phía Nam từ ngoài nhìn vào). Đèn nầy có 7 ngọn, đựng dầu ô-li-ve (27:20-21). Chúa ra lịnh đèn nầy phải cháy sáng luôn.
Nơi
Chí Thánh được
phân biệt với Nơi Thánh bằng
một bức màn.
Trong Nơi Chí Thánh có Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời
Trong Nơi Chí Thánh có Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời
·
Trong Hòm Giao Ước có -
(Hê.9:4)
·
Hai bảng đá ghi 10 điều
răn.
·
Một bình đựng Mana
·
Cây gậy trổ hoa của
A-rôn.
Trên
Hòm Giao Ước là một khối vàng ròng, đồng thời có hình hai Chê-ru-bin xòe cánh
che phủ trên nắp Hòm
D. Mái che (36:14-19) có 3 lớp:
1/. Vải lông dê bên trong.
2/. Da chiên đực nhuộm đỏ (ở giữa)
3/. Da cá nược bên ngoài.
Vật liệu xây dựng Đền tạm gồm 15 loại:
D. Mái che (36:14-19) có 3 lớp:
1/. Vải lông dê bên trong.
2/. Da chiên đực nhuộm đỏ (ở giữa)
3/. Da cá nược bên ngoài.
Vật liệu xây dựng Đền tạm gồm 15 loại:
2.
Bạc: biểu tượng của sự cứu chuộc (Xuất. 30:12-16;
38:27)
3.
Đồng: biểu tượng sự đoán phạt (Xuất. 27:1-8; Dân.
21:6-9)
5.
Màu đỏ điều: biểu tượng quyền của vua (màu áo của
vua)
8.
Lông dê: Chức tiên tri (Mathiơ 3:4; II Vua 1:8)
10.
Da cá nược: (Xuất. 36:19): biểu tượng bề ngoài của Chúa Jêsus Christ khi còn
trong xác thịt (Ê-sai 53:2)
13.
Dầu thắp đèn (27:20-21): chỉ về sự tỉnh thức
14.
Hương liệu: chỉ về Sự cầu nguyện.
3.
Lễ Vượt Qua: (Xuất 12:)
Lễ
Vượt Qua là hình ảnh mô tả rõ nhất việc được cứu bởi đức tin nơi huyết của Chúa Jêsus Christ.
Đây là nền tảng để xưng Đấng Christ là Chiên Con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:29)
Cử hành vào ngày 14 đến ngày 21 tháng Nisan (tức tháng 1 lịch Do-thái khoảng tháng 3 Dương lịch) – Xuất. 12:1-51; 13:3-10; 23:14-19; 34:18-26
Cách giữ Lễ:
Đây là nền tảng để xưng Đấng Christ là Chiên Con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:29)
Cử hành vào ngày 14 đến ngày 21 tháng Nisan (tức tháng 1 lịch Do-thái khoảng tháng 3 Dương lịch) – Xuất. 12:1-51; 13:3-10; 23:14-19; 34:18-26
Cách giữ Lễ:
·
Ngày 10, lựa chọn chiên
con hoặc dê con được một tuổi (giáp năm)
·
Quay chiên con, không
được luộc, không được làm gãy xương, ăn với bánh không men và rau đắng, ăn hết
trong ngày (nếu nhà nào không đủ người ăn hết thì mời người lân cận cùng ăn).
Nếu dư thì phải thiêu.
·
Ăn với tư thế: lưng phải
thắt, cầm gậy, mang giày, ăn nhanh, nghĩa là sẵn sàng ra đi.
·
chỉ người đã chịu cắt bì
mới được ăn
Đó
là về nghi thức cá nhân, còn phần thầy tế lễ:
·
Ngày 15:
·
Ngày 16:
o
Dâng:
Một
con chiên đực
Của lễ thiêu
Của lễ chay
Lễ Quán
Của lễ thiêu
Của lễ chay
Lễ Quán
IV.
BÀI HỌC THUỘC LINH:
A.
Sách Xuất Ê-díp-tô chia 3 phần:
|
|
ĐCT
|
Y-sơ-ra-ên
|
CĐN
|
|
1. Ra khỏi Ai Cập
|
Toàn năng
|
TỰ DO
tự do mà vô luật thì phóng túng |
|
|
2.Luật pháp
|
Thánh khiết
|
Thể chế mới, cuộc sống mới
|
BỔN PHẬN
có bổn phận mà không có tự do thì là nô lệ |
|
3. Đền tạm
|
Yêu thương
|
ĐẶC QUYỀN tự do và bổn phận mà không có đặc quyền thì vô lý và
vô
nghĩa |
B.
Sách có 3 đặc điểm bắt đầu:
o
Tháng 4 trở thành tháng 1
2.
Bắt đầu sự tự do mới: 13:3
o
Xứ Ai Cập được gọi là nô lệ
o
Ra khỏi Ai Cập là bước vào tự do mới.
3.
Bắt đầu thông công mới: (25:8)
o
Qua Đền Tạm (Giăng 1:14)
Tất
cả những điều nầy đều được bày tỏ trong Tin lành của Chúa Jêsus Christ. Chúa Jêsus Christ lãnh
đạo một cuộc “xuất hành” vĩ đại hơn Môi-se. I Côrintô 5:7-8 chép: “Đấng Christ là Con
sinh Lễ Vượt qua”. Xuất hành dưới sự lãnh đạo của Môi-se có ý nghĩa bắt đầu
một đời sống mới, tự do mới, thông công mới;
thì Tin lành của Đấng Christ cũng có
nghĩa như vậy cho người nào TIN nhận Chúa Jêsus Christ.
-----------
Đề mục: XUẤT HÀNH (RA ĐI)
Kinh thánh: Xuất. 12:40-50
Câu gốc: Xuất. 12:41
I/. LÝ DO XUẤT HÀNH (RA ĐI):
1/. Vì sự phát triển của tuyển dân:
-----------
Đề mục: XUẤT HÀNH (RA ĐI)
Kinh thánh: Xuất. 12:40-50
Câu gốc: Xuất. 12:41
I/. LÝ DO XUẤT HÀNH (RA ĐI):
1/. Vì sự phát triển của tuyển dân:
·
Xuất 1:1-7
·
Sách Xuất Ê-díp-tô ký bắt
đầu với gia đình của Gia-cốp hiện diện tại Ai Cập với 70 người (1:5). Đến câu
7, vừa qua một thế hệ, gia đình nầy trở nên:
·
thêm nhiều lạ lùng.
·
nẩy nở ra và trở nên
cường thạnh
·
cả xứ đều đầy dẫy.
·
Sự phát triển dân số nầy
so với Xuất. 12:37, trong 430 năm, dân Y-sơ-ra-ên đã từ 70 người lên đến con
số 600 ngàn người đàn ông đi bộ. Như vậy, chúng ta có thể ước
tính họ đã đạt con số tối thiểu là 2 triệu, trung bình cứ 25 năm, dân
Y-sơ-ra-ên tăng gấp đôi một lần.
·
Thật ra con số 2 triệu
người trong một xứ rộng lớn của Ai Cập, đối với chúng ta ngày nay thì không
đáng kể. Nhưng đối với hơn 3 ngàn năm trước, thì con số 2 triệu nầy trong nước
Ai Cập là quá lớn, kèm theo những nhu cần như: đồng cỏ nuôi gia súc chiên, bò…,
và chắc chắn còn phát triển thêm nữa với tỉ lệ sinh sản 1+1. Thí dụ, 600 ngàn
người đàn ông nầy một năm sau sinh thêm một đứa con, thì con số một năm đó sẽ
tăng 4 triệu.
·
Với đồng bằng Gô-sen mà
vua Ai Cập cấp phát cho gia đình Gia-cốp, bây giờ đã trở nên quá chật hẹp. Vì
vậy, tuyển dân của Đức Chúa Trời bắt buộc phải ra đi, ra đi để
phát triển.
·
Tôi rất thích hình ảnh ra
đi của tuyển dân với lý do nầy, vì nó minh họa nhu cần phát triển của tuyển dân
thuộc linh là Hội thánh của Chúa Jêsus Christ. Hội thánh phải có khuynh hướng ra đi để
phát triển, nếu Hội thánh không chịu ra đi thì không phát
triển được.
·
Giăng 12:24, Chúa Jêsus phán: Nếu hột giống lúa mì kia, chẳng
chết đi sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết
quả được nhiều.
·
Sách Công vụ 8:5, 26, 39,
Phi-líp đã có một sự ra đi liên tục và cảm ơn Chúa, nhờ đó Hội thánh đã phát triển đến Sa-ma-ri, đến
Phi châu, đến A-xốt, đến Sê-sa-rê…
·
Công vụ 13:2-3, Hội thánh tại An-ti-ốt đã như mất mát hai
trong số những trụ cột của Hội thánh là Sau-lơ và Ba-na-ba, khi để
cho họ ra đi. Cảm ơn Chúa,
họ đã ra đi và Hội thánh đã phát triển.
2/. Vì sự thù nghịch của Ai Cập:
·
Xuất 1:8-22
·
Nhu cần thứ hai để tuyển
dân Y-sơ-ra-ên phải ra đi là vì sự thù nghịch của người Ai Cập.
·
Câu 8, sách Xuất Ê-díp-tô
ký cho chúng ta biết rằng một vua mới của Ai Cập, chẳng quen biết Giô-sép, tức
là không biết công trạng to lớn của Giô-sép trong việc cứu Ai Cập và thế giới
thời đó khỏi nạn đói 7 năm.
·
Theo lịch sử thế giới thì
dòng Hyksos từ Châu Á đến chiếm lấy Ai Cập và cai trị. Trong dòng vua nầy, có
Pha-ra-ôn Apepi II trọng dụng Giô-sép. Đến năm 1580 TC. dòng họ Ahmose đuổi
dòng Hyksos, rồi cai trị Ai Cập. Đây là dòng Pha-ra-ôn đàn áp dân Y-sơ-ra-ên.
·
Xuất. 1:8-9 đã ghi lại lý
do người Ai Cập đàn áp dân Y-sơ-ra-ên:
·
Vua nầy không quen biết
Giô-sép.
·
Vì dân Y-sơ-ra-ên đông và
mạnh hơn dân Ai Cập.
·
Người Ai Cập nghi ngờ dân
Y-sơ-ra-ên có thể đánh lại người Ai Cập và ra khỏi xứ.
·
Kết quả sự lo sợ đó đã
đưa đến quyết định bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ phục dịch cho các công trình
của Ai Cập.
·
Với những câu Kinh thánh trong sách Xuất Ê-díp-tô ký
1:11-14 đã cho chúng ta thấy cảnh nô lệ nhọc nhằn của người Ai Cập đối với
người Y-sơ-ra-ên:
·
1:11, … dân Y-sơ-ra-ên làm xâu khó
nhọc.
·
1:12b-13, Người Ê-díp tô đem lòng ghen
ghét dân Y-sơ-ra-ên, bắt làm công việc nhọc nhằn.
·
1:14, gây cho đời dân ấy (dân Y-sơ-ra-ên) nên cay
đắng, vì nỗi khổ sở nhồi đất, làm gạch, và mọi việc khác ở ngoài đồng. Các công
việc nầy người Ê-díp-tô bắt dân Y-sơ-ra-ên làm NHỌC NHẰN LẮM.
·
Chẳng những bắt làm khổ
sai, vua Ai Cập còn toan diệt chủng Y-sơ-ra-ên bằng phương pháp giết con trai
mới sanh của người Y-sơ-ra-ên. Một biện pháp thật tàn độc.
·
Đó là lý do tuyển dân
Y-sơ-ra-ên phải ra đi khỏi Ai Cập nếu muốn thoát khỏi cảnh nô lệ đến chết đối
với người Ai Cập.
·
Trong Rôma 6:12-13,
Phao-lô đã mượn ý đó để nói với tuyển dân thuộc linh của Đức Chúa Trời là các Cơ-Đốc nhân ngày nay hãy
nhìn thấy kiếp nô lệ cho tội lỗi
của chính con người mình – kiếp nô lệ chỉ đem đến sự hổ thẹn và cuối cùng là sự
chết, từ ý thức đó, Phao-lô kêu gọi Cơ-Đốc nhân chúng ta đầu phục Đức Chúa Trời để chính Chúa hướng dẫn đời sống của mình (6:12), Phao-lô kêu
gọi: Vậy, chớ để tội lỗi
cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp
mình cho tội lỗi, như
là đồ dùng gian ác.
II/. CHUẨN BỊ XUẤT HÀNH (RA ĐI):
·
Xuất. 2: - 13:
1/. Người lãnh đạo cuộc Ra Đi:
·
Xuất 2: - 4:
·
Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời của trật tự, Chúa làm việc gì cũng có kỳ định và
có kế hoạch rõ ràng, đối với Chúa không
có việc gì ngẫu nhiên cả, mà luôn luôn có sự chuẩn bị thật trọn vẹn.
·
Trong kế hoạch chuẩn bị
cho tuyển dân Y-sơ-ra-ên ra đi, điều đầu tiên là Đức Chúa Trời chuẩn bị một người để lãnh đạo
tuyển dân: Đó là Môi-se.
·
Sách Xuất Ê-díp-tô ký
đoạn 2 đến đoạn 4, Đức Chúa Trời đã dành cho Môi-se một chương
trình huấn luyện trong 80 năm:
·
2:1-15, Đức Chúa Trời cho Môi-se có cơ hội từ một người con của nô lệ
Y-sơ-ra-ên trở thành hoàng tử của Đế quốc Ai Cập. Nhờ cơ hội nầy, Môi-se đã học hết sự khôn
ngoan của người Ai Cập trong 40 năm (Công vụ 7:22)
·
2:16-25, tiếp theo, Đức Chúa Trời đã đưa Môi-se vào đồng vắng
Ma-đi-an ở trong nhà của thầy tế lễ Giê-trô, lập gia đình, có con và sống với nghề chăn chiên. Nhờ 40 năm
nầy, Môi-se học được bài học nhịn nhục, học được bài học cách sống trong đồng vắng và địa hình của
đồng vắng.
·
3: - 4:, sau 80 năm giữa
những thăng trầm, Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se vào công việc
lãnh đạo tuyển dân của Ngài ra khỏi nhà nô lệ Ai Cập. Sự kêu gọi nầy với nhiều
dấu hiệu đặc biệt: sự hiện thấy về bụi gai cháy mà không tàn, về tình cảnh của
dân Y-sơ-ra-ên, về Danh xưng của Chúa là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, về những phép
lạ hóa gậy thành rắn và bàn tay phung.
·
Mặc dù Môi-se nhiều lần
khước từ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời lãnh đạo sự ra đi của tuyển dân,
nhưng cuối cùng ông đã vâng lời.
·
Chúng ta phải ngạc nhiên
cảm tạ Chúa về sự
huấn luyện của Đức Chúa Trời cho người mà Chúa sẽ dùng để lãnh đạo tuyển dân ra
đi khỏi nhà nô lệ Ai Cập:
·
Chúa chuẩn bị cho người lãnh đạo
tuyển dân tánh tình nhẫn nại, chịu khó: bắt một Hoàng tử chăn chiên trong đồng
vắng.
·
Chúa chuẩn bị cho người lãnh đạo một
kinh nghiệm cá nhân đối diện với Chúa, biết Chúa rõ ràng từ Danh xưng, đến quyền
năng thực tế.
·
Đặc biệt là Chúa dạy Môi-se 80 năm để sử dụng ông
trong 40 năm sắp đến. Một bài học huấn luyện cho người muốn hầu việc Đức Chúa Trời từ trí óc đến tấm lòng, và đến
kinh nghiệm thuộc linh cá
nhân với Chúa không thể
thiếu.
2/. Thời điểm ra đi:
·
Xuất. 5: - 13:
·
Suốt 9 đoạn Kinh thánh trong sách Xuất Ê-díp-tô ký
nầy, chúng ta được chứng kiến một cuộc tranh đấu giữa quyền lực của thế gian mà
đại diện là Vua Ai Cập muốn thách thức Đức Chúa Trời qua đại diện của Ngài là Môi-se.
·
Tại sao vua Ai Cập dám
làm như vậy?
·
Vì theo tín ngưỡng của
người Ai Cập thời đó, Hoàng đế là Thần Linh, đại diện của Thần RÂ – Thần
Mặt Trời – trên
đất, vì thế Pha-ra-ôn đã nói với Môi-se: Giê-hô-va là ai mà trẫm phải
vâng lời người, để cho dân Y-sơ-ra-ên đi? (Xuất. 5:2)
·
Sự tranh đấu nầy được
Kinh thánh dùng từ
ngữ: Pha-ra-ôn CỨNG LÒNG, khiến Đức Chúa Trời phải dùng Môi-se thi hành 10 tai
vạ hình phạt trên đất Ai Cập.
·
10 tai vạ nầy đụng đến
nhu cần sự sống của người
Ai Cập, đụng đến các thần của Ai Cập như thần ruồi, thần sông Nile; đụng đến
nền kinh tế của Ai Cập như súc vật bị bịnh dịch, mưa đá, cào cào phá hoại mùa
màng … Đặc biệt là các tai vạ nầy không ảnh hưởng trên tuyển dân Y-sơ-ra-ên
của Chúa.
·
Cuối cùng là tai vạ thứ
mười, Chúa đã sai
thiên sứ hủy diệt giết hại con đầu lòng của nhà nào trên đất Ai Cập không
bôi huyết chiên
con trên mày cửa và hai cột cửa. sách Xuất Ê-díp-tô ký 12:30-31, mô tả cảnh
trạng đêm kinh khiếp của tai vạ thứ mười:
“Đương lúc ban đêm, Pha-ra-ôn,
quần thần cùng hết thảy người Ê-díp-tô đều chờ dậy; có tiếng kêu la inh ỏi
trong xứ Ê-díp-tô, vì chẳng một nhà nào là không có người chết. Trong đêm đó,
Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Hai ngươi và dân Y-sơ-ra-ên hãy
chờ dậy, RA KHỎI vòng dân ta…
·
Cuối cùng, Pha-ra-ôn của
Ai Cập đầu phục Đức Chúa Trời của Môi-se, Đức Chúa Trời của tuyển dân Y-sơ-ra-ên đến
nỗi, trong đêm kinh hoàng đó, dân Y-sơ-ra-ên ra đi với tất cả của cải mà họ
muốn, Bất cứ giá nào người Ai Cập cũng bằng lòng cho hết, miễn là dân
Y-sơ-ra-ên mau mau đi khỏi họ. Dân Y-sơ-ra-ên đã đòi được công giá phục dịch
bao nhiêu năm làm nô lệ.
·
Với biến cố đặc biệt
nầy, Đức Chúa Trời đã ra lịnh cho dân Y-sơ-ra-ên
dùng ngày 14 tháng giêng nầy là Lễ Vượt Qua để nhắc nhở các thế hệ trải qua
các đời cuộc Xuất
Hành vĩ đại của ông cha họ ra khỏi nhà nô lệ Ai Cập, cũng là hình bóng về Chiên
Con Đức Chúa Trời là Chúa Jêsus Christ sẽ đến
thế gian cất tội lỗi thế
gian.
·
Chúng ta phải nói điều
nầy, với tai vạ thứ mười chỉ là sự hi sinh của một con chiên con mà dân
Y-sơ-ra-ên được giải cứu khỏi cảnh con đầu lòng bị giết, được cứu khỏi nhà nô
lệ Ai Cập, chỉ chừng ấy mà dân Y-sơ-ra-ên trải qua các thời đại ngay cả đến
ngày nay cũng không dám quên ơn Chúa. Còn Cơ-Đốc nhân chúng ta, không phải
được cứu bằng huyết của
chiên đực, dê đực, mà bằng Huyết Chiên
Con Đức Chúa Trời, là Chúa Jêsus Christ, há lại
chẳng nhớ ơn Chúa để sống cho Chúa sao? Thật chúng ta phải hổ thẹn
mà nói rằng chúng ta thường quên công ơn cứu chuộc của Chúa Jêsus Christ. Xin Chúa tha tội cho chúng ta và cáo trách chúng
ta, khuyên giục chúng ta rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài
đến.
--------------
Đề mục: LỊCH TRÌNH RA ĐI (Tiếp theo XUẤT HÀNH)
Kinh thánh: Sách Xuất Ê-díp-tô ký 14: - 40:
Câu gốc: Xuất 12:41
I/. VƯỢT BIỂN ĐỎ:
Đề mục: LỊCH TRÌNH RA ĐI (Tiếp theo XUẤT HÀNH)
Kinh thánh: Sách Xuất Ê-díp-tô ký 14: - 40:
Câu gốc: Xuất 12:41
I/. VƯỢT BIỂN ĐỎ:
·
Xuất. 14: - 15:21
·
Lịch trình tuyển dân
Y-sơ-ra-ên ra khỏi biên giới của Ai Cập dường như có sự thay đổi. Lý do của sự thay đổi là vì Chúa biết Pha-ra-ôn và đạo quân của
Ai Cập sau biến động con đầu lòng bị giết, họ hồi tỉnh và quyết định đuổi theo
để bắt dân Y-sơ-ra-ên trở lại làm nô lệ.
·
Trong 14:1-4, Chúa truyền lịnh cho Môi-se đưa dân
Y-sơ-ra-ên lui lại đóng trại đối diện với Biển Đỏ.
·
Xét về địa hình, vị trí
của dân Y-sơ-ra-ên quá nguy hiểm, vì
·
trước mặt là Biển Đỏ,
·
hai bên là vách núi,
·
phía sau là đạo quân
Pha-ra-ôn đuổi theo
·
Trong lịch sử các cuộc
chiến của Trung quốc, có người dàn quân cách dựa bờ sông như thế nầy, khiến
quân sĩ buộc lòng phải liều mạng tử chiến mà thắng trận; cũng có người bắt
chước dàn quân dựa bờ sông như vậy lại thua trận.
·
Riêng về dân Y-sơ-ra-ên
chưa từng một lần chiến đấu, lại là một đoàn người với 600 ngàn đàn ông, nhưng
bên cạnh có vợ con, cha mẹ, của cải, gia súc của họ, nếu có tử chiến, họ cũng
không thể thắng được, nhất là họ đang hoảng sợ và muốn nổi loạn chống lại
Môi-se (Xuất. 14:10-12)
·
Cảm ơn Chúa, Đức Chúa Trời đã can thiệp, thật ra chính Ngài
chiến cự, còn dân Y-sơ-ra-ên thì yên lặng (14:14).
·
Chúng ta hãy nghe tác giả
sách Xuất Ê-díp-tô ký ghi lại cuộc chiến của Đức Giê-hô-va với đạo quân của Ai
Cập:
·
14:19-20, thiên sứ
của Chúa bảo vệ
tuyển dân trở lại đi sau. Trụ mây lộn lại phía sau làm một bức màn che chắn cho
tuyển dân, khiến phía người Ai Cập thì tối tăm, còn phía dân Y-sơ-ra-ên thì sáng.
Mục đích của trụ mây là để hai bên không sáp lại gần nhau được, mà dân
Y-sơ-ra-ên cũng không nhìn thấy quân Ai Cập mà mất tinh thần.
·
15:21-22, Chúa bảo Môi-se đưa tay trên biển và
Ngài làm cho nước Biển rẽ ra, khiến đáy biển thành một con đường khô cho dân
Y-sơ-ra-ên đi ngang qua, hai bên nước thành một bức vách.
Ai
đã từng xem bộ phim Mười Điều Răn thấy Đạo diễn dùng kỹ thuật điện ảnh trong
cảnh nầy cũng phải tấm tắc khen. Tôi tin rằng cảnh thật đời Môi-se chắc chắn còn hùng vĩ hơn.
Có người vịn cớ khoa học đã tính ra vào thời điểm Môi-se, có một trận động đất trên thượng lưu Biển Đỏ tách lòng Biển làm hai, tạo thành một hố sâu rút nước xuống, khiến hạ lưu có một khoảng đất trống để dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua, rồi khi đạo quân Ai Cập bước xuống, hố sâu đó theo chấn động của mặt đất khép lại đẩy số nước vừa rút xuống trào lên khiến đạo quân Ai Cập không kịp chuẩn bị nên chết hết. Họ cho rằng đó là sự ngẫu nhiên để chối bỏ phép lạ.
Cơ-Đốc nhân chúng ta không cần phải lo lắng, mà phải cảm ơn Chúa vì khoa học đã giúp chúng ta chứng minh câu chuyện vượt Biển Đỏ của Kinh thánh không phải là truyện thần thoại. Đặc biệt trận động đất lại xảy ra vào đúng lúc dân Chúa cần, há không phải là phép lạ sao? Còn đạo quân Ai Cập bước xuống thì đúng lúc nước khép lại, há chẳng phải là phép lạ sao?
Có người vịn cớ khoa học đã tính ra vào thời điểm Môi-se, có một trận động đất trên thượng lưu Biển Đỏ tách lòng Biển làm hai, tạo thành một hố sâu rút nước xuống, khiến hạ lưu có một khoảng đất trống để dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua, rồi khi đạo quân Ai Cập bước xuống, hố sâu đó theo chấn động của mặt đất khép lại đẩy số nước vừa rút xuống trào lên khiến đạo quân Ai Cập không kịp chuẩn bị nên chết hết. Họ cho rằng đó là sự ngẫu nhiên để chối bỏ phép lạ.
Cơ-Đốc nhân chúng ta không cần phải lo lắng, mà phải cảm ơn Chúa vì khoa học đã giúp chúng ta chứng minh câu chuyện vượt Biển Đỏ của Kinh thánh không phải là truyện thần thoại. Đặc biệt trận động đất lại xảy ra vào đúng lúc dân Chúa cần, há không phải là phép lạ sao? Còn đạo quân Ai Cập bước xuống thì đúng lúc nước khép lại, há chẳng phải là phép lạ sao?
·
Chiến thắng Biển Đỏ nầy
làm cho dân Y-sơ-ra-ên không thể nào nín lặng phải hát một bài ca và nhảy múa
ngợi khen Chúa. Hơn 400 năm,
lần đầu tiên dân Y-sơ-ra-ên hát được một bài ca ngợi khen Chúa. Thật là kỳ diệu!
·
Sự kiện dân Y-sơ-ra-ên
vượt Biển Đỏ đem lại cho Cơ-Đốc nhân chúng ta nhiều bài học quí báu:
·
Bài học đối với sự cứu
rỗi, rõ ràng sự kiện nầy một phép báp-têm, chết đời sống cũ, sống đời sống mới, như Phao-lô đã áp dụng
trong thư I Côrintô 10:1-2. Từ đây Cơ-Đốc nhân chúng ta dứt khoát đời sống cũ.
·
Bài học đối với sự bảo vệ
của Đức Chúa Trời, có những lần cá nhân tôi dường như
bế tắc trong cuộc sống,
trước mặt là Biển Đỏ, sau lưng là đạo quân Ai Cập, hai bên là vách đá khó qua,
bên cạnh là sự túng quẫn của gia đình. Cảm ơn Chúa, Chúa đã rẽ Biển Đỏ vào đúng lúc tôi
hoàn toàn tuyệt vọng để tôi lại được tiếp tục con đường phục vụ Chúa.
·
Có ai trong anh chị em ở
vào những bài học đó không? Người cũ đã dứt khoát chưa? Có cùng đường tuyệt lối
chưa? Hãy đọc lại và học bài học dân Y-sơ-ra-ên Vượt Biển Đỏ hầu cho thêm đức tin nơi Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta. Tôi tin rằng khi đó, anh chị em cũng sẽ
giống dân Y-sơ-ra-ên để hát một bài ca ngợi khen Chúa không dứt.
II/. TIẾN ĐẾN SI-NAI:
·
15:22 – 18:
·
Trong mấy phân đoạn nầy,
sách Xuất Ê-díp-tô ký thuật kể cho chúng ta diễn biến trên hành trình từ Biển
Đỏ đến Bán đảo Si-nai hay Núi Si-nai, đặc biệt là cho chúng ta thấy ba khó khăn
lớn mà Môi-se phải đối phó trước đoàn dân hơn 2 triệu người nầy khi dắt họ về
Đất Hứa.
1/. Sự cứng lòng của dân Y-sơ-ra-ên:
·
Xuất. 15:22 – 17:7
·
Anh chị em thấy trong
đoạn 15:1-21 là một bài ca vui mừng cảm tạ ơn Chúa bảo vệ, giữ gìn được dân
Y-sơ-ra-ên hát lên. Nhưng ngay sau đó đến 15:22 trở đi thì dân Y-sơ-ra-ên quên
hết các ơn lành của Chúa, để lằm bằm, than trách, muốn nổi loạn chống lại
Môi-se, chống lại Chúa.
·
Họ thiếu ăn thiếu uống
thì oán trách Chúa oán trách
Môi-se, và mơ về một Ai Cập có bánh ăn dù phải làm nô lệ. Họ sẵn sàng đổi lấy
một chút thỏa mãn đòi hỏi của xác thịt bằng kiếp nô lệ. Và Chúa đã cho Môi-se làm phép lạ có
nước cho họ uống. Chúa thật
đầy lòng thương xót, đã ban cho họ ma-na làm
lương thực suốt 40 năm trong đồng vắng. Họ không làm mà vẫn có ăn.
·
Chúng ta thật ngạc nhiên
về sự chu cấp của Chúa cho
đoàn dân quá đông nầy, không phải một ngày hoặc một thời gian ngắn, mà trong 40
năm. Chỉ tiếc một điều là dân Y-sơ-ra-ên cứ cứng lòng không tin. Và sự cứng lòng nầy liên tiếp diễn ra
trong suốt 40 năm, đến nỗi trở thành đặc tánh của dân Y-sơ-ra-ên như tác giả
thư Hê-bơ-rơ đã nói trong Hêb. 3:7-9.
2/. Sự tấn công của các dân ngoại
thù nghịch:
·
Xuất. 17:8-16
·
Phân đoạn Kinh thánh nầy cho chúng ta những nhận
định tiêu biểu về hành trình của tuyển dân Y-sơ-ra-ên về Đất Hứa:
·
Họ bị dân ngoại thù
nghịch tấn công và những cuộc tấn công nầy sẽ còn tiếp tục ngay cả khi dân
Y-sơ-ra-ên vào Đất hứa.
·
Bí quyết thắng trận của
dân Y-sơ-ra-ên trong các trận chiến nầy là: Họ phải anh dũng chiến đấu như
Giô-suê, cộng với quyền năng của Đức Chúa Trời qua sự cầu nguyện của người lãnh
đạo như Môi-se.
·
Những cuộc tấn công của
thù nghịch chắc chắn làm hình bóng về sự tấn công của ma quỉ vào đời sống Cơ-Đốc nhân chúng ta ngày nay,
như Phao-lô đã nói đến trong thư Êphêsô 6:10-13; và Phi-e-rơ đã kinh nghiệm
trong I Phi. 5:8.
·
Tôi tin rằng đây cũng là kinh nghiệm của
anh chị em từ ngày theo Chúa đến
nay. Biết bao nhiêu lần ngoài sự cám dỗ của xác thịt trong những cái ăn cái
uống, còn cả một đạo quân của ma quỉ lúc nào cũng chực hờ tấn công chúng ta.
Chỉ xin Chúa cho mỗi
chúng ta áp dụng bài học về cách dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng quân A-ma-léc, ấy
là:
3/. Cách Quản lý dân sự:
·
Xuất. 18:
·
Cá nhân tôi thật ngạc
nhiên khi đọc đến bài học về Nghệ thuật lãnh đạo mà ông Giê-trô đã dạy cho con
rễ của mình là Môi-se trong đoạn nầy.
·
Tôi ngạc nhiên vì
Kinh thánh làm
chứng rằng Môi-se đã học hết sự khôn ngoan của người Ai Cập,
nhưng lại không được học hay là Môi-se đã quên bài học Nghệ thuật lãnh đạo dân
sự.
·
Bài học lãnh đạo nầy phát
xuất từ sự bức xúc của Giê-trô, nhạc phụ của Môi-se, vượt đường xa đến thăm con
mà phải chờ suốt ngày cũng chưa được gặp.
·
Cách quản lý của Giê-trô
là
·
chọn người đủ tư cách
lãnh đạo với những tiêu chuẩn: tài năng, có đời sống thuộc linh tốt (kính sợ Chúa), và ngay lành trung tín.
·
chia dân sự thành những
nhóm 1.000 người, 100 người, 50 người, 10 người, để giải quyết từ dưới lên
trên. Bí quyết của Giê-trô về Nghệ thuật lãnh đạo là phân công chia việc.
·
Điều tôi cảm ơn Chúa là Môi-se dù học giỏi, nhưng
không hề kiêu ngạo, sẵn sàng vâng lời ông gia mình, làm y
như mọi điều người đã dạy (Xuất 19:24).
·
Cách quản lý dân sự là
nan đề của Môi-se, nhưng Môi-se đã thành công vì biết lắng nghe. Đây há không
phải là bài học cho mỗi chúng ta về nghệ thuật lãnh đạo và sự khiêm nhường lắng
nghe để thành công sao?
III/. ĐẾN SI-NAI:
·
Xuất. 19: - 40:
·
Địa điểm Núi Si-nai là
ngay đỉnh của bán đảo Si-nai, Đức Chúa Trời đã cho dân Y-sơ-ra-ên dừng chân
ở đây một năm (Xuất. 19:1 so với 40:1-2).
·
Tại sao Đức Chúa Trời để dân Y-sơ-ra-ên ở tại nơi nầy
lâu như vậy? Khi nghĩ đến điều nầy, chúng ta phải thật cảm tạ Chúa yêu thương và quan tâm đến tuyển
dân của Ngài.
·
Vì trải qua 430 năm ở Ai
Cập, dân Y-sơ-ra-ên chỉ là một đám nô lệ, không hề biết tổ chức là gì; không hề
biết luật lệ pháp độ như thế nào. Họ chỉ cần biết một luật duy nhất dành cho
người nô lệ là VÂNG PHỤC và VÂNG PHỤC.
·
Bây giờ dân Y-sơ-ra-ên đã
được tự do, sắp bước vào một đất nước đượm sữa và mật, lập thành một dân tộc tỏ
tường. Vì vậy họ cần có Luật pháp, có tổ chức.
·
Xuất 19: - 31:
·
Luật pháp của Đức Chúa Trời được qui định trong Mười Điều
Răn (Xuất. 20:1-17), đơn giản nhất mà cũng đầy đủ nhất với hai phần
·
Sáu điều sau là đối với
con người, và bắt đầu từ người thân nhất là đối với cha mẹ.
·
Đặc biệt đây là lần đầu
tiên và cũng là lần duy nhất Đức Chúa Trời trực tiếp viết ra mạng lịnh của
Ngài, và viết trên bảng đá. Sau đó là bảng giải thích Luật pháp của Môi-se.
·
Xem thế chúng ta cũng
nhận ra Mưòi Điều Răn quan trọng biết là dường nào, nó quyết định phước hay họa
đối với dân Chúa.
·
Xuất 32 – 34:
·
Ba đoạn nầy thật cần yếu
cho dân Y-sơ-ra-ên và cũng cho chúng ta biết rõ về Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên dù đã ra đi khỏi đất
Ai Cập, nhưng với 430 năm ảnh hưởng của Ai Cập, hay nói cách khác, với bản chất
của con người tội lỗi, A-rôn
và dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn vướng vít hình ảnh một Đức Chúa Trời theo quan niệm của người Ai Cập
qua một hình tượng, ví dụ như hình tượng con bò con. Và họ dựng lên một con bò
con bằng vàng và tôn nó là Đức Chúa Trời (Xuất 32:1-6)
·
Qua cơ hội nầy, dân Y-sơ-ra-ên và chính
Môi-se nữa, được Chúa dạy
một bài học: Chúa là Đấng không thấy được, vì ai
thấy Chúa là chết,
con người như Môi-se cũng chỉ thấy được vinh quang của Chúa mà thôi.
3/. Xây dựng Đền tạm:
·
Xuất 35: - 40:
·
Đặc điểm của loài người
chúng ta, dù đã phạm tội,
hụt mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nhưng từ trong sâu thẳm tâm hồn con
người lúc nào cũng khao khát một sự thờ phượng đối với Đấng Tạo Hóa. Chúa biết điều đó và Chúa cũng đẹp lòng về điều đó, nên
Ngài đã dạy Môi-se làm một Đền tạm cho Ngài, hầu những ngày dân Chúa đi trong đồng vắng, họ có nơi
tập trung thờ phượng, đáp ứng sự khao khát của họ đối với Chúa.
·
Sở dĩ gọi là Đền Tạm, vì
đền thờ nầy được thiết kế theo cách tháo ráp được. Trên đường đi về Đất Hứa,
thì dân Y-sơ-ra-ên có thể tháo ra. Khi dừng lại một nơi nào, thì họ lại ráp vào
thành một đền thờ.
·
Đền thờ tạm nầy có những
đặc điểm:
·
Dù là tạm, nhưng đều bằng
vật liệu quí giá như vàng, bạc, đồng, gỗ Si-tim quí, chỉ gai mịn.
·
Tất cả chi tiết xây dựng
Đền thờ tạm nầy hoàn toàn do Chúa thiết
kế và dạy Môi-se từng chi tiết nhỏ.
·
Đền thờ tạm nầy được đặt
ở vị trí trung tâm của Trại quân.
·
Hướng của đền thờ tạm sẽ
quay về hướng Đông, và là hướng cố định của đền thờ chính thức sau nầy.
·
Nói tóm lại, Đức Chúa Trời của chúng ta thật là Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, yêu thương
kẻ thuộc về Ngài, Chúa quan
phòng dân Chúa từ thuộc
thể lẫn thuộc linh, lo cho
dân Chúa từ miếng
ăn thức uống, và cả về cách sống trật
tự xứng đáng là một dân tự do, không phải là kẻ nô lệ, cũng như về tâm linh.
·
Luận về sự quan phòng
của Chúa qua lịch
trình nầy, Phao-lô đã kết luận trong I Côrintô 10:11, Những sự ấy có nghĩa hình bóng,
và họ đã lưu truyền để khuyên bảo chúng ta là kẻ ở gần cuối cùng các đời.
·
Nguyện Chúa ban cho chúng ta có lòng mềm mại
để Thánh Linh Đức Chúa Trời ứng dụng Lời nầy vào mỗi chúng
ta.
--------------
Đề mục: BÀI HỌC THUỘC LINH SÁCH XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ
Kinh thánh: Xuất. 13:9
Mục đích: Áp dụng những bài học thuộc linh qua ba phần chính của sách Xuất Ê-díp-tô ký.
I/. RA KHỎI XỨ AI CẬP:
·
Xuất. 1: - 18:
·
(Đọc Xuất. 12:29-42)
·
Sách Xuất Ê-díp-tô ký
được chia làm ba phần chính, căn cứ vào 3 sự kiện nổi bật trong Sách. Mỗi sự
kiện là một bài học thuộc linh rõ
ràng cho dân Y-sơ-ra-ên và cho Cơ-Đốc nhân chúng ta; đồng thời cả ba sự kiện
nầy lại có liên hệ gần gũi với nhau.
·
Trong phần thứ I, với 18
đoạn, chúng ta được nghe tác giả sách sách Xuất Ê-díp-tô ký là Môi-se thuật lại
câu chuyện Đức Chúa Trời giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi
Ai Cập.. Câu chuyện được trình thuật đầy đủ tình tiết:
·
Xuất. 1:
·
Câu chuyện dân Y-sơ-ra-ên
được Đức Chúa Trời giải cứu ra khỏi Ai Cập bắt đầu
với việc giới thiệu gia đình của Y-sơ-ra-ên hay có tên cũ là Gia-cốp, vốn trước
đây theo lời mời của Giô-sép là con trai của Y-sơ-ra-ên, đã từ Ca-na-an đi
xuống Ai Cập để sống. Gia đình ấy
từ con số 70 người, bây giờ sau 430 năm (12:40) đã lên đến con số quá đông, nếu
so với 12:37, con số đó là không dưới 2 triệu người nam phụ lão ấu.
·
Thêm vào đó, tác giả cũng giới
thiệu cho chúng ta tình hình xoay chuyển sang hướng nguy hiểm cho dân
Y-sơ-ra-ên, vua Ai Cập của triều đại mới thi hành chính sách đàn áp và diệt
chủng đối với người Y-sơ-ra-ên, tạo nên một nhu cần buộc dân Y-sơ-ra-ên phải nghĩ
đến việc ra khỏi Ai Cập, nghĩa là thoát khỏi cảnh nô lệ.
·
Từ 2: đến 18:
·
Tác giả sách Xuất
Ê-díp-tô ký thuật kể về việc Đức Chúa Trời sử dụng Môi-se để tranh đấu với
vua Ai Cập vô tín, kiêu ngạo, mục đích là để giải cứu tuyển dân Y-sơ-ra-ên ra
khỏi Ai Cập.
·
5:2, lời nói của
Pha-ra-ôn tỏ ra sự kiêu ngạo, thách thức Đức Chúa Trời: Giê-hô-va là ai mà trẫm phải
vâng lời người, để cho dân Y-sơ-ra-ên đi?Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết,
cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi nữa.
·
Sự kiêu ngạo nầy phát
xuất từ những lý do:
1/.
Vì Pha-ra-ôn được dân Ai Cập tôn làm thần, nên Pha-ra-ôn tưởng mình là thần
như Đức Chúa Trời.
2/. Vì Pha-ra-ôn lúc bấy giờ có quyền lực của một đế quốc hùng mạnh, thịnh vượng, và có một nền văn minh cao, nên không sợ một thế lực nào đe dọa. Pha-ra-ôn không biết rằng ông không đối diện với các thế lực con người, mà đang đối diện với một Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
3/. Một vài phép lạ mà Chúa đã dùng Môi se thi hành để cảnh cáo Pha-ra-ôn, thì các thuật sĩ của Ai Cập cũng làm được như: Hóa gậy thành rắn, hóa nước thành huyết… Nhưng Pha-ra-ôn thấy rắn của Môi-se nuốt rắn của các thuật sĩ; thay vì làm cho nước thành huyết của Môi se trở lại thành nước, thì họ lại làm thành huyết hôi thối thêm…
2/. Vì Pha-ra-ôn lúc bấy giờ có quyền lực của một đế quốc hùng mạnh, thịnh vượng, và có một nền văn minh cao, nên không sợ một thế lực nào đe dọa. Pha-ra-ôn không biết rằng ông không đối diện với các thế lực con người, mà đang đối diện với một Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
3/. Một vài phép lạ mà Chúa đã dùng Môi se thi hành để cảnh cáo Pha-ra-ôn, thì các thuật sĩ của Ai Cập cũng làm được như: Hóa gậy thành rắn, hóa nước thành huyết… Nhưng Pha-ra-ôn thấy rắn của Môi-se nuốt rắn của các thuật sĩ; thay vì làm cho nước thành huyết của Môi se trở lại thành nước, thì họ lại làm thành huyết hôi thối thêm…
·
Cuộc tranh đấu nầy rõ
ràng không phải là giữa hai con người là Môi se với vua Ai Cập, mà là
giữa Đức Chúa Trời với quyền lực của Sa-tan muốn
tiêu diệt tuyển dân để ngăn trở chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho loài người. Vì nếu
tuyển dân Y-sơ-ra-ên bị tiêu diệt, thì Đấng Cứu Thế được hứa không đến theo
lời hứa với tuyển dân được.
·
Cảm ơn Chúa, Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời tối cao, sau chín tai vạ hành
hại xứ Ai Cập, tàn phá kinh tế Ai Cập như súc vật bị bịnh dịch, mưa đá, nạn cào
cào; những tai vạ đụng đến các loài vật được người Ai Cập tôn làm thần như:
ếch, ruồi, thần mặt trời của
họ bị che tối tăm… Đến tai vạ thứ mười, Chúa đã hình phạt toàn thể gia đình
trong xứ Ai Cập không có huyết bôi
mày cửa và hai cột cửa, Chúa đã
sai thiên sứ đánh giết con đầu lòng của họ từ vua đến dân, đến súc vật (12:29).
·
Cuối cùng, vua Ai Cập đã
nhận biết mình chỉ là người, và Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, đến nỗi ông xin Môi-se cầu Chúa ban phước cho ông.
·
Qua những sự kiện xảy ra,
sách Xuất Ê-díp-tô ký đã giới thiệu cho chúng ta một Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, toàn năng trên các
vua, trên thiên nhiên, trên cả quyền lực của Sa-tan, không có gì ngăn được ý
chỉ của Ngài trên đất và trên chính tuyển dân của Chúa.
·
Phần Kinh thánh nầy cũng cho tuyển dân một bài
học thuộc linh quý báu,
họ đã được Chúa cứu từ
nhà nô lệ Ai Cập để bước vào Đời Sống Mới tự do. Lẽ thật nầy làm hình
bóng cho đời sống Cơ-Đốc nhân chúng ta trong Chúa Jêsus Christ. Chúa Jêsus Christ là
Chiên Con Lễ Vượt Qua thiêng liêng cứu chúng ta khỏi tình trạng nô lệ cho tội lỗi, nô lệ của ma quỉ, đem chúng
ta vào đời sống tự do.
·
Giăng 8:34-36
·
Ngày nay, khi chúng
ta tin Chúa Jêsus Christ làm
Cứu Chúa và Chúa của đời sống mình, chúng ta đã được tự do,
không còn bị tội lỗi cai
trị, không còn ở dưới ách nô lệ của ma quỉ nữa. Như Phao-lô đã khuyên chúng ta
trong
·
Rôma 6:12-14
·
Galati 5:1
II/. TIẾP NHẬN LUẬT PHÁP:
·
Xuất. 19:-24:
·
Cảm ơn Chúa, Đức Chúa Trời không muốn cứu dân Y-sơ-ra-ên ra
khỏi nhà nô lệ Ai Cập để rồi mặc cho họ sống thế nào cũng được. Chúa muốn họ làm một tuyển dân của
Ngài – một dân tộc đúng nghĩa. Do đó, sách Xuất Ê-díp-tô ký đã ghi lại phần thứ
hai sự kiện Đức Chúa Trời ban cho tuyển dân Luật Pháp.
1/. 10
điều răn là Luật căn bản được ghi trong Xuất. 20:1-17, do chính Chúa viết trên hai bảng đá, qui định
hai bổn phận: Bổn phận đối với Chúa qua 4 điều răn đầu; và Bổn phận
đối với con người với nhau, bắt đầu từ bổn phận đối với người thân nhất là cha
mẹ, đối với người lân cận, và đối với tài vật của người khác, qua 6 điều sau.
2/. Phần Giải thích các điều răn, từ đoạn 20: đến đoạn 24.
2/. Phần Giải thích các điều răn, từ đoạn 20: đến đoạn 24.
·
Qua Luật pháp mà Chúa đã ban cho tuyển dân Y-sơ-ra-ên
của Ngài, chủ yếu là nghiêm cấm dân Chúa phạm tội với Chúa và với nhau, Đức Chúa Trời bày tỏ cho dân Chúa biết Ngài là Đức Chúa Trời Chí Thánh, không dung chứa tội lỗi, không kể kẻ có tội là vô tội, cũng là Đức Chúa Trời của trật tự (I Côrintô 14:33)
·
Sự ban Luật pháp là cần
yếu đối với tuyển dân, vì sau 430 năm làm nô lệ, họ chỉ có một thứ luật pháp
của người Ai Cập, luật pháp của sự phục tùng con người. Bây giờ, dân Y-sơ-ra-ên
đã được tự do, họ cần có luật pháp để sống với Chúa và với nhau.
·
Với 10 điều răn và phần
giải thích 10 điều răn, Đức Chúa Trời đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên thể
chế mới dành cho họ là THỂ CHẾ THẦN QUYỀN, Chúa là Vua của họ.
·
Điều nầy đã làm mẫu mực
cho các dân tộc ngày nay, khi một nước tuyên bố độc lập, thì điều đầu tiên là
phải ban bố Hiến pháp và luật lệ, để người dân biết rằng họ được tự do,
nhưng sự tự do đó không quá lỗ mũi của họ.
Quốc gia nào độc lập cũng làm thế để công bố thể chế và đường lối chánh sách
của họ.
·
Chúng ta thấy có sự liên
hệ giữa Phần thứ nhất với phần thứ hai của sách Xuất Ê-díp-tô ký. Có Tự Do mà
không có Luật pháp, luật lệ, bổn phận, thì đó không phải là tự do mà là sự
phóng túng của người con trai hoang đàng, chắc chắn hậu quả là sẽ trở thành
kẻ muốn ăn vỏ đậu của heo ăn, mà người ta cũng không cho (Luca
15:16)
·
Ngược lại, có bổn phận,
có luật pháp mà không có tự do, đó là nô lệ. Vì thế chúng ta thấy Đức Chúa Trời không ban Luật pháp cho tuyển
dân cho đến khi đã giải cứu họ ra khỏi nhà nô lệ, đưa họ vào cuộc sống Tự do.
·
Đó là lẽ thật cũng dành
cho Cơ-Đốc nhân chúng ta. Sau khi được cứu trong Đấng Christ, chúng ta
thật được tự do:
·
Cơ-Đốc nhân được tự do
trong sự ăn uống, không như người theo Phật giáo, phải kiêng cữ nhiều điều
trong sự ăn uống.
·
Cơ-Đốc nhân được tự do
trong sự nhóm lại, không bị gò bó như những người theo Công giáo Lamã, Hồi
giáo… Mỗi Cơ-Đốc nhân đều tự do đến với Chúa, tự do ngợi khen, tự do đọc và học
Kinh thánh là
Lời Chúa.
·
Chỉ tiếc là có những
Cơ-Đốc nhân lợi dụng sự tự do của mình làm vấp phạm anh em trong Chúa, như tín đồ tại thành Cô-rin-tô đã bị
Phao-lô quở trách (I Cô. 8:9), trong khi đó có những người dạy một thứ Tin Lành duy Luật pháp, mà không hề biết
đến tự do, như những giáo sư giả đã dạy tín đồ tại Galati, khiến Phao-lô phải
viết thư Galati quở trách nặng (Galati 3:1-7)
·
Xin Chúa là Đức Chúa Trời Thánh khiết, Công bình, ban cho mỗi
chúng ta lúc nào cũng nhớ chúng ta là người đã được tự do trong Chúa Jêsus Christ để sống theo Luật pháp thánh của Chúa; đồng thời cũng luôn ý thức Cơ-Đốc
nhân chúng ta là người đã được tự do trong Đấng Christ rồi,
hầu cho không sống như bị
trói mình dưới Luật pháp nữa.
III/. XÂY DỰNG ĐỀN TẠM:
·
Xuất. 25:-40:
·
Phần thứ ba của sách Xuất
Ê-díp-tô ký tường thuật cho chúng ta một công trình đặc biệt mà Môi-se đã vâng
theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời hướng dẫn dân sự xây dựng: Đó là
Đền Tạm để thờ phượng Đức Chúa Trời trong thời gian ở đồng vắng.
·
Ở giữa để làm gì? Một lần
nữa Lời Chúa trả
lời: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, ĐẦY ƠN VÀ LẼ THẬT… (Giăng
1:14). Chúa muốn ở
giữa chúng ta để ban ơn cho chúng ta.
·
Ơn đó là gì? Ơn đó là Đặc
ơn cho con người được một mối liên hệ mới với Chúa, một mối thông công mới giữa con
người chúng ta với Đức Chúa Trời. Một mối thông công mà loài người
chúng ta đã đánh mất từ khi tổ phụ A-đam và Ê-va phạm tội, làm hụt mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
·
Cảm ơn Chúa, ngày nay, chúng ta ngoài những đền
thờ vật chất mà chúng ta biết được trong Kinh thánh, Chúa cũng cho Cơ-Đốc nhân chúng ta có
đền thờ để thờ phượng Chúa tại
địa phương, đồng thời Chúa lại
ban cho chúng ta một đền thờ đặc biệt là chính Thân thể của chúng ta (I Côrintô
6:19; Êphêsô 2:20-22). Thế thì, chúng ta đã có một mối liên hệ, mối thông công
đặc biệt với Đức Chúa Trời.
·
Chúa đã cứu chúng ta, đã ban luật lệ,
pháp độ để chúng ta như một người tự do, lại còn cho chúng ta được thông công
với Ngài. Đó há không phải là đặc ân đặc quyền của chúng ta sao?
·
Qua mối thông công kỳ
diệu nầy, chúng ta khám phá gì về Đức Chúa Trời ngoài sự Toàn năng, Thánh khiết Công bình của Ngài trong
hai phần của sách Xuất Ê-díp-tô ký? Cảm ơn Chúa, Chúa cho chúng ta biết rằng Ngài là
một Đức Chúa Trời yêu thương, lúc nào cũng muốn
liên hệ với chúng ta, lúc nào cũng muốn chúng ta cầu nguyện không thôi.
·
Có Tự do mà không có Bổn
phận thì là phóng túng.
·
Có bổn phận mà không có
tự do, thì đó là nô lệ.
·
Có tự do, có bổn phận, mà
không quyền lợi thì vô lý, vô nghĩa.
·
--------------
Đề mục: MÔI-SE
Kinh thánh: Xuất Ê-díp-tô ký 2:1-10
Câu gốc: Xuất. 2:10
I/. 40 NĂM ĐẦU ĐỜI:
Đề mục: MÔI-SE
Kinh thánh: Xuất Ê-díp-tô ký 2:1-10
Câu gốc: Xuất. 2:10
I/. 40 NĂM ĐẦU ĐỜI:
·
Xuất. 2:1-15.
·
Học đến sách Xuất
Ê-díp-tô ký, tất cả chúng ta sẽ không thể nào quên được nhân vật chính trong
sách là Môi-se. Và như Chấp sự Ê-tiên đã chia đời sống của Môi-se ra ba làm thời kỳ,
mỗi thời kỳ là 40 năm.
·
lúc nhỏ đi bốn chân, vì
chỉ biết bò.
·
lớn lên đi hai chân
·
lúc già đi ba chân, vì
phải chống gậy.
·
lúc chết đi tám chân, đó
là chân của những người khiêng hòm.
·
Nhưng cuộc đời của Môi-se không chia ba giai
đoạn theo cách như vậy, mà chia theo sự nghiệp của ông.
·
2:1-2, từ lúc mới được
sanh ra trong gia đình của người Hê-bơ-rơ làm nô lệ tại Ai Cập, đặc biệt là
Môi-se được sanh ra trong lúc vua Ai Cập ra lịnh những bé trai của người
Hê-bơ-rơ đều phải bị giết khi lọt lòng mẹ.
3
tháng đầu đời, Môi-se đã phải
nếm trải bao khổ sở, nguy biến. Nghèo khổ vì cha mẹ của Môi-se chỉ là một gia
đình nô lệ. Nguy biến vì lúc nào cũng có thể bị giết bởi lịnh của vua Ai Cập.
Thật ra Kinh thánh không cho chúng ta biết cách cha mẹ của Môi-se che giấu Môi-se như thế nào trong 3 tháng, nhưng tôi tin rằng đầy những khó khăn. Dù vậy, tình yêu thương của cha mẹ, cũng như anh chị của Môi-se đối với một đứa con, đứa em NGỘ (2:1), khiến họ bất chấp lịnh vua, vượt qua khó khăn, quyết lòng bảo vệ an toàn cho Môi-se.
Thật ra Kinh thánh không cho chúng ta biết cách cha mẹ của Môi-se che giấu Môi-se như thế nào trong 3 tháng, nhưng tôi tin rằng đầy những khó khăn. Dù vậy, tình yêu thương của cha mẹ, cũng như anh chị của Môi-se đối với một đứa con, đứa em NGỘ (2:1), khiến họ bất chấp lịnh vua, vượt qua khó khăn, quyết lòng bảo vệ an toàn cho Môi-se.
·
2:3-10, đến phân đoạn
nầy, chúng ta thấy bàn tay của Đức Chúa Trời can thiệp để chuẩn bị huấn luyện
Môi-se cho chức vụ lãnh đạo tương lai, tạo điều kiện cho Môi-se được đưa vào
cung điện của Ai Cập, làm con trai của Công Chúa Pha-ra-ôn, bằng cách cho
Công Chúa Ai Cập
nhân một chuyến đi tắm thấy được chiếc rương mà mẹ của Môi-se đã để ông trong
đó mà thả xuống sông Nile, đồng thời với sự khôn ngoan lanh lẹ của chị Môi-se
đưa Môi-se trở lại với người mẹ của Môi-se.
·
Ngay khi chào đời, Môi-se đã kinh nghiệm được sự quan
phòng của Đức Chúa Trời trên đời sống của ông, chính tên của ông đã là
một minh chứng: Môi-se có nghĩa là Được Cứu Khỏi Nước (Xuất.
2:10). Kinh nghiệm nầy đã theo đuổi đời sống của Môi-se trong những ngày lưu
lạc trong đồng vắng với dân Y-sơ-ra-ên, khiến không có lúc nào chúng ta thấy sự
lo lắng thiếu ăn thiếu mặc của Môi-se.
·
Bốn mươi năm sống trong cung điện của vua Ai Cập,
Môi-se đã học hết sự khôn ngoan của người Ai Cập thời đó (Công vụ 7:22)
·
Theo thế giới sử, Môi se
ra đời vào triều
đại của Pharaôn Akhenaten, đến Hoàng đế Horemhed qua đời không có con trai kế vị (có lẽ đã
chết trong tai vạ thứ mười con đầu lòng bi giết và chết nơi Biển Đỏ, nên qua Tể
Tướng là Pramese lên ngôi đổi thành Ramses. Trong thời kỳ nầy, nền văn minh của
Ai Cập cổ đã đạt tới vinh quang tột cùng. Biểu tượng của nền văn minh nầy là
Kim Tự tháp còn đến ngày nay với bao khám phá mới lạ gây ngạc nhiên cho thế
giới, và vẫn còn là những bí mật cho ngành Khảo Cổ học tiếp tục tìm tòi.
Chúng ta hãy thử xem xét Kim Tự
tháp CHEOP, là trong 3 Kim Tự tháp đẹp nhất
·
Kim tự tháp Chéop cao 148 m
(Hiện chỉ còn 137 m)
·
Đáy tháp vuông vạnh là 227 m
·
Nặng độ 6 triệu tấn
·
Gồm 2.300.000 tảng đá, mỗi tảng
đá nặng từ 2 đến 16 tấn.Mỗi tảng đá được gọt đẽo một cách khéo léo, lắp ráp
chính xác đến độ không thể chèn được con dao bỏ túi vào, cũng không thấy dấu
vết của xi-măng.
·
Ấy là chưa kể bao nhiêu công
trình Toán học, Thiên văn học… tiềm ẩn trong Kim Tự tháp.
·
Nói đến đây, chúng ta
phải cảm tạ Chúa vì Đức Chúa Trời đã chuẩn bị một người để giải
cứu dân Ngài là Môi-se. Trong sự chuẩn bị đó, Chúa đã đưa Môi-se vào một Trường Học
khôn ngoan cao cấp của Hoàng gia Ai Cập vào thời cực thịnh nhất.
·
Muốn phục vụ Chúa phải học hỏi, không có sự thông
minh đột xuất trong công việc Nhà Chúa. Ngay một người “dốt nát không học” như
Phi-e-rơ cũng đã khuyên chúng ta:Vậy nên, về phần anh em, phải
gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhơn đức, thêm cho nhơn đức sự học thức… (II
Phi-e-rơ 1:5). Trên bước đường thành công không bao giờ có bóng dáng của người
lười biếng.
·
Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời muốn Môi-se phục vụ Ngài, giải
cứu dân Ngài, Chúa không muốn
Môi-se ngủ yên trong cung điện Ai Cập, Chúa chỉ mượn Hoàng cung Ai Cập để
huấn luyện người của Ngài. Vì vậy, đến khi Môi-se 40 tuổi (Công vụ 7:23), Đức Chúa Trời đã dấy lên trong lòng Môi-se sự
yêu thương dân tộc Hê-bơ-rơ của ông, và cho phép xảy ra biến cố Môi-se giết
người Ai Cập để đuổi Môi-se ra khỏi Ai Cập.
II/. 40 NĂM YÊN LẶNG:
·
Thời gian từ Xuất. 2: 16
đến 4: được Ê-tiên tính là bốn mươi năm (Công vụ 7:30).
·
2:16-22, Môi-se chạy trốn
vào đồng vắng Ma-đi-an, vì vua Ai Cập tìm giết Môi-se do ông giết người Ai Cập.
Trong đồng vắng Ma-đi-an, Môi-se cưới vợ và sanh con. Ông đã chọn đời sống ẩn dật, yên lặng.
·
3: đến 4:, là một cuộc
đối thoại giữa Đức Chúa Trời với Môi-se, khi Chúa chính thức kêu gọi Môi-se đứng
ra giải cứu dân Chúa ra khỏi
Ai Cập. Sự kêu gọi nầy gốm hai phương diện:
*Với
bụi gai cháy mà không tàn (Xuất. 3:1-2)
·
Đức Chúa Trời dùng sự hiện thấy nầy để đánh
thức niềm tin của
Môi-se, chứng minh cho ông biết rằng, ngoài học thức của ông có một quyền năng
siêu nhiên của Đức Chúa Trời
·
Học thức của Môi-se dạy
rằng vật chất như bụi gai bị tác dụng của lửa thì sẽ tàn, nhưng Chúa là Đức Chúa Trời quyền năng có thể làm cho bụi
gai không tàn, một hiện tượng phản khoa học của Môi-se đã học. Và nhơn đó Chúa xưng Danh Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (Xuất. 3:14-15).
·
Chúng ta thấy dường như
Môi se hoàn toàn trở thành một người vô thần trong cái học thức của ông. Ông đã
dùng sức riêng để cứu anh em đồng bào của mình, rồi thất bại. Có lẽ ông thấy
những Pha-ra-ôn là những ĐỨC CHÚA TRỜI của Ai Cập rồi cũng chết, chúng
ta không hề thấy Môi-se nhắc đến Đức Chúa Trời của tổ phụ ông.
·
Bây giờ, Chúa chứng minh cho Một Đức Chúa Trời Tự Hữu và Hằng Hữu. Có lẽ Môi-se
đã học về lẽ thật Đức Chúa Trời Tự Hữu Hằng Hữu rồi, nhưng ông
chưa kinh nghiệm thực tế về một Đức Chúa Trời Tự Hữu Hằng Hữu.
*Với
trách nhiệm giải cứu dân Chúa:
·
Những câu nói của Môi se
với Chúa cho thấy
một con người chán nản, chỉ muốn sống an nhàn (Xuất. 3:11; 4:1, 10)
·
Đức Chúa Trời đã làm cho Môi-se hoàn toàn mất
hết sức riêng. Chúa không
muốn Môi-se từ bỏ học thức, nhưng Chúa muốn Môi-se từ bỏ sự kiêu ngạo
từ học thức, từ uy quyền của con trai Công Chúa Pha-ra-ôn. Vì sự
kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau; tánh tự cao đi trước sự sa ngã (Châm. 16:18)
·
Cảm ơn Chúa, cuối cùng con người Môi-se đã đầu
phục Chúa, hoàn toàn
để Chúa hướng
dẫn đời sống của ông. Từ đây, chúng ta sẽ
thấy một Môi-se hoàn toàn khác hẳn, không còn là con trai Công Chúa Pha-ra-ôn, cũng
không còn là Môi-se của bày chiến nơi đồng vắng Ma-đi-an, mà là tôi tớ
của Đức Chúa Trời.
·
Phải nói rằng đây là điều
đa số những người lãnh đạo xưa nay trên thế giới đều thiếu. Họ không thiếu khôn
ngoan, học thức, nhưng họ thiếu sự khiêm nhường, hạ mình.
·
Trong Hội thánh cũng vấp vào căn bịnh kiêu ngạo
nầy. Hội thánh ngày nay không thiếu những
người học giỏi, tài năng, khôn ngoan, nhưng điều Hội thánh ngày nay thiếu là thiếu những
Cơ-Đốc nhân khiêm nhường, đầu phục Đức Chúa Trời hoàn toàn, dâng tài năng, học
thức, để Chúa sử dụng.
Đó là lý do Hội thánh chưa phục hưng.
·
Đức Chúa Trời cần Môi-se, không phải Môi-se
con trai Công Chúa Ai Cập,
không phải Môi-se trong đồng vắng Ma-đi-an, nhưng phải là sau khi Môi-se khám
phá bụi gai cháy không tàn.
·
Đức Chúa Trời cần những Phi-e-rơ sau khi
chối Chúa biết ăn
năn; Đức Chúa Trời cần những Phao-lô sau khi ngã
ngựa và lần đầu tiên trong cuộc đời biết hỏi Chúa: Lạy Chúa, bây giờ tôi phải làm chi? và bằng
lòng để một con người tầm thường như A-na-nia dạy mình (Công
vụ 22:10-16).
·
Có ai không? Và có ai
không?
III/. 40 NĂM CUỐI ĐỜI:
·
Xuất. 5: - .
·
Sách Xuất Ê-díp-tô ký chỉ
ghi đến việc Môi-se hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên xây dựng Đền Tạm cho Chúa tại Bán đảo Si-nai. 40 năm
cuối đời của Môi-se
trải dài đến sách Phục truyền Luật lệ ký đoạn 34.
·
40 cuối đời của Môi-se, nghĩa là từ năm 80
tuổi đến 120 tuổi, là cả một chuỗi ngày hoạt động không ngừng, đầy gian nan.
·
Xuất. 5:-14:
Đây
là thời gian Môi-se đối đầu với quyền lực của vua Ai Cập, một người có sức mạnh
của một Đế quốc hùng cường và cũng là một vị thần của dân Ai Cập, quyền sanh
sát trong tay.
Cảm ơn Chúa, với quyền năng của Đức Chúa Trời Tự Hữu Hằng Hữu, Môi-se đã chiến thắng sau khi thi hành 10 tai vạ hình phạt nước Ai Cập; ngược lại vua Ai Cập và các chiến sĩ hùng mạnh của vua chìm chết trong Biển Đỏ.
Cảm ơn Chúa, với quyền năng của Đức Chúa Trời Tự Hữu Hằng Hữu, Môi-se đã chiến thắng sau khi thi hành 10 tai vạ hình phạt nước Ai Cập; ngược lại vua Ai Cập và các chiến sĩ hùng mạnh của vua chìm chết trong Biển Đỏ.
·
Xuất. 15:-17:7
Môi-se
đối diện với một dân cứng cổ, nhưng lại là tuyển dân. Một dân lúc nào cũng phải
yêu thương nhưng lại luôn chống nghịch, dễ nổi loạn với những duyên cớ bình
thường như ăn, uống, đến những tội lỗi đáng sợ như dựng tượng bò
vàng để thờ.
Anh chị em có thể nghe Môi-se nói về những nỗi nhọc nhằn của ông đối với dân Y-sơ-ra-ên cứng cổ nầy qua lời ông nói với Chúa trong sách Dân số ký 11:12-15, Tôi há có thọ thai dân nầy sao?Há có sanh đẻ nó sao? mà Ngài lại phán biểu tôi rằng: Hãy ẵm dân nầy trong lòng ngươi, như người cha nuôi bồng đứa trẻ bú … xin thà giết tôi đi, để tôi không thấy sự khốn nạn tôi!
Nhưng rồi khi Chúa hình phạt dân sự, Môi se lại hết lòng cầu thay cho họ (Xuất. 32:30-32). Không phải một lần, mà nhiều lần; không phải một ngày mà 40 ngày 40 đêm.
Anh chị em có thể nghe Môi-se nói về những nỗi nhọc nhằn của ông đối với dân Y-sơ-ra-ên cứng cổ nầy qua lời ông nói với Chúa trong sách Dân số ký 11:12-15, Tôi há có thọ thai dân nầy sao?Há có sanh đẻ nó sao? mà Ngài lại phán biểu tôi rằng: Hãy ẵm dân nầy trong lòng ngươi, như người cha nuôi bồng đứa trẻ bú … xin thà giết tôi đi, để tôi không thấy sự khốn nạn tôi!
Nhưng rồi khi Chúa hình phạt dân sự, Môi se lại hết lòng cầu thay cho họ (Xuất. 32:30-32). Không phải một lần, mà nhiều lần; không phải một ngày mà 40 ngày 40 đêm.
·
Xuất. 17:8-16
Môi-se
còn phải đối đầu với những sự tấn công của các dân thù nghịch bên ngoài, chung
quanh, lúc nào cũng rình rập, cũng muốn ngăn cản đường về Đất Hứa của dân Chúa, thậm chí biến sự tấn công đó thành
những cám dỗ rũ rê dân Chúa phạm tội thờ hình tượng, dâm loạn.
·
Xuất. 18:-40:
Suốt
những đoạn còn lại, sách Xuất Ê-díp-tô ký ghi lại những điều mà Môi-se phải đối
đầu thuộc về nội bộ của dân sự với nhau và với Chúa.
Đoạn 18, cho chúng ta biết một điều thực tế là trong nội bộ giữa dân sự với nhau, hằng ngày có biết bao nhiêu điều tranh cạnh, rắc rối cần phải giải quyết suốt ngày vẫn chưa hết (Xuất 18:13). Những rắc rối là điều đương nhiên vì con người với con người, nhất là với số đông hơn 2 triệu người, trong đó còn phải cộng thêm một số dân tạp.
Cảm ơn Chúa, Chúa đã đưa Nhạc phụ của Môi-se là Giê-trô đến thăm và đã dạy Môi se bài học Nghệ thuật lãnh đạo với khẩu hiệu: Lãnh đạo là phân công Đúng người – Đúng việc. Một lần nữa, chúng ta học được sự khiêm nhường của Môi-se, ông đã lắng nghe dạy dỗ và áp dụng.
Đoạn 19-40, Môi-se còn phải lo dạy dân sự xây dựng một Đền thờ cho Đức Chúa Trời, với những vật liệu sẵn có. Chúng ta đều biết, Đền thờ là nơi tiêu biểu cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời và nơi bày tỏ mối thông công tốt nhất. của con người với Chúa.
Đoạn 18, cho chúng ta biết một điều thực tế là trong nội bộ giữa dân sự với nhau, hằng ngày có biết bao nhiêu điều tranh cạnh, rắc rối cần phải giải quyết suốt ngày vẫn chưa hết (Xuất 18:13). Những rắc rối là điều đương nhiên vì con người với con người, nhất là với số đông hơn 2 triệu người, trong đó còn phải cộng thêm một số dân tạp.
Cảm ơn Chúa, Chúa đã đưa Nhạc phụ của Môi-se là Giê-trô đến thăm và đã dạy Môi se bài học Nghệ thuật lãnh đạo với khẩu hiệu: Lãnh đạo là phân công Đúng người – Đúng việc. Một lần nữa, chúng ta học được sự khiêm nhường của Môi-se, ông đã lắng nghe dạy dỗ và áp dụng.
Đoạn 19-40, Môi-se còn phải lo dạy dân sự xây dựng một Đền thờ cho Đức Chúa Trời, với những vật liệu sẵn có. Chúng ta đều biết, Đền thờ là nơi tiêu biểu cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời và nơi bày tỏ mối thông công tốt nhất. của con người với Chúa.
·
Nói tóm lại, một người
phục vụ Chúa là phục
vụ dân sự của Chúa, là một người
LÀM DÂU TRĂM HỌ. Quý Bà Quý Cô làm dâu MỘT HỌ còn lo lắng thay, huống chi người phục vụ Chúa giống như làm dâu trăm họ. Phải
đối đầu với thù trong giặc ngoài, có lúc khác nào như chiên giữa bầy muông sói:
·
đối đầu với những nhu cần
vật chất của dân sự – những nhu cần dễ cám dỗ con người.
·
đối đầu với sự tấn công
của thế gian
·
Để có thể làm tròn trọng
trách với bao nhiêu gánh nặng dường ấy, Đức Chúa Trời là Đấng Biết Hết Mọi Sự, Chúa đã chuẩn bị những bài học về học
vấn, về tánh tình. Điều quan trọng là Môi-se để lại cho chúng ta một gương:
Môi-se là người chịu học, học hết sự khôn ngoan của thế gian, nhưng cũng còn
học mãi không chút kiêu ngạo.
·
Bài học của Môi-se là một
bài học cho chúng ta là những người muốn phục vụ Chúa. Tôi xin được mượn lời của Phao-lô mô
tả chức vụ của ông để kết thúc bài nầy: TÔI HẦU VIỆC CHÚA CÁCH KHIÊM NHƯỜNG, PHẢI NHIỀU
NƯỚC MẮT, VÀ Ở GIỮA NHỮNG THỬ THÁCH MÀ NGƯỜI GIU-ĐA ĐÃ LẬP MƯU HẠI TÔI (Công
vụ 20:19)

Tài liệu có thể được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau.
0 Comments:
Đăng nhận xét